Diễn biến giá quặng sắt dựa trên sản lượng và tiêu thụ thép thô toàn cầu.

Năm 2019, lượng tiêu thụ thép thô thực tế toàn cầu đạt 1,89 tỷ tấn, trong đó lượng tiêu thụ thực tế của Trung Quốc là 950 triệu tấn, chiếm 50% tổng lượng tiêu thụ toàn cầu. Năm 2019, tiêu thụ thép thô của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục, và mức tiêu thụ thực tế bình quân đầu người đạt 659 kg. Từ kinh nghiệm phát triển của các nước phát triển ở châu Âu và Hoa Kỳ, khi mức tiêu thụ thực tế bình quân đầu người đạt 500 kg, mức tiêu thụ sẽ giảm. Do đó, có thể dự đoán rằng mức tiêu thụ thép của Trung Quốc đã đạt đỉnh, sẽ bước vào giai đoạn ổn định, và cuối cùng nhu cầu sẽ giảm. Năm 2020, lượng tiêu thụ và sản lượng thép thô thực tế toàn cầu lần lượt là 1,89 tỷ tấn và 1,88 tỷ tấn. Lượng thép thô sản xuất từ ​​quặng sắt làm nguyên liệu chính đạt khoảng 1,31 tỷ tấn, tiêu thụ khoảng 2,33 tỷ tấn quặng sắt, thấp hơn một chút so với sản lượng 2,4 tỷ tấn quặng sắt cùng kỳ năm trước.
Bằng cách phân tích sản lượng thép thô và lượng tiêu thụ thép thành phẩm, nhu cầu thị trường về quặng sắt có thể được phản ánh. Để giúp người đọc hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa ba yếu tố này, bài báo này phân tích ngắn gọn từ ba khía cạnh: sản lượng thép thô thế giới, lượng tiêu thụ thực tế và cơ chế định giá quặng sắt toàn cầu.
Sản lượng thép thô thế giới
Năm 2020, sản lượng thép thô toàn cầu đạt 1,88 tỷ tấn. Sản lượng thép thô của Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga và Hàn Quốc lần lượt chiếm 56,7%, 5,3%, 4,4%, 3,9%, 3,8% và 3,6% tổng sản lượng thế giới, và tổng sản lượng thép thô của sáu quốc gia này chiếm 77,5% tổng sản lượng thế giới. Năm 2020, sản lượng thép thô toàn cầu tăng 30,8% so với năm trước.
Sản lượng thép thô của Trung Quốc năm 2020 đạt 1,065 tỷ tấn. Sau khi vượt mốc 100 triệu tấn lần đầu tiên vào năm 1996, sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 490 triệu tấn vào năm 2007, tăng hơn gấp bốn lần trong 12 năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 14,2%. Từ năm 2001 đến năm 2007, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 21,1%, và đạt 27,2% (năm 2004). Sau năm 2007, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, các hạn chế sản xuất và các yếu tố khác, tốc độ tăng trưởng sản lượng thép thô của Trung Quốc đã chậm lại, thậm chí còn ghi nhận tăng trưởng âm vào năm 2015. Do đó, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển tốc độ cao của ngành sắt thép Trung Quốc đã qua, tốc độ tăng trưởng sản lượng trong tương lai bị hạn chế, và cuối cùng sẽ có tăng trưởng âm.
Từ năm 2010 đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng sản lượng thép thô của Ấn Độ chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 3,8%; Sản lượng thép thô lần đầu tiên vượt mốc 100 triệu tấn vào năm 2017, trở thành quốc gia thứ năm trong lịch sử có sản lượng thép thô trên 100 triệu tấn, và vượt qua Nhật Bản vào năm 2018, xếp thứ hai trên thế giới.
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên có sản lượng thép thô hàng năm đạt 100 triệu tấn (lần đầu tiên đạt được con số này vào năm 1953), đạt sản lượng tối đa 137 triệu tấn vào năm 1973, đứng đầu thế giới về sản lượng thép thô từ năm 1950 đến năm 1972. Tuy nhiên, kể từ năm 1982, sản lượng thép thô của Hoa Kỳ đã giảm, và sản lượng thép thô năm 2020 chỉ còn 72,7 triệu tấn.
Lượng tiêu thụ thép thô ước tính trên thế giới
Năm 2019, lượng tiêu thụ thép thô toàn cầu đạt 1,89 tỷ tấn. Lượng tiêu thụ thép thô tại Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga lần lượt chiếm 50%, 5,8%, 5,7%, 3,7%, 2,9% và 2,5% tổng lượng tiêu thụ toàn cầu. Năm 2019, lượng tiêu thụ thép thô toàn cầu tăng 52,7% so với năm 2009, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 4,3%.
Lượng tiêu thụ thép thô thực tế của Trung Quốc năm 2019 gần đạt 1 tỷ tấn. Sau khi lần đầu tiên vượt mốc 100 triệu tấn vào năm 1993, lượng tiêu thụ thép thô thực tế của Trung Quốc đã đạt hơn 200 triệu tấn vào năm 2002, sau đó bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, đạt 570 triệu tấn vào năm 2009, tăng 179,2% so với năm 2002 và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 15,8%. Sau năm 2009, do khủng hoảng tài chính và điều chỉnh kinh tế, tốc độ tăng trưởng nhu cầu đã chậm lại. Lượng tiêu thụ thép thô thực tế của Trung Quốc cho thấy tăng trưởng âm trong năm 2014 và 2015, và trở lại tăng trưởng dương vào năm 2016, nhưng tốc độ tăng trưởng đã chậm lại trong những năm gần đây.
Lượng tiêu thụ thép thô thực tế của Ấn Độ năm 2019 đạt 108,86 triệu tấn, vượt qua Hoa Kỳ và đứng thứ hai trên thế giới. Năm 2019, lượng tiêu thụ thép thô thực tế của Ấn Độ tăng 69,1% so với năm 2009, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,4%, đứng đầu thế giới trong cùng kỳ.
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới có lượng tiêu thụ thép thô ước tính vượt quá 100 triệu tấn, và giữ vị trí số một thế giới trong nhiều năm liền. Bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, lượng tiêu thụ thép thô ước tính tại Hoa Kỳ đã giảm đáng kể vào năm 2009, thấp hơn gần 1/3 so với năm 2008, chỉ còn 69,4 triệu tấn. Kể từ năm 1993, lượng tiêu thụ thép thô ước tính tại Hoa Kỳ chỉ thấp hơn 100 triệu tấn vào các năm 2009 và 2010.
Mức tiêu thụ thép thô bình quân đầu người trên thế giới
Năm 2019, mức tiêu thụ thép thô bình quân đầu người trên thế giới là 245 kg. Hàn Quốc là quốc gia có mức tiêu thụ thép thô bình quân đầu người cao nhất (1082 kg/người). Các quốc gia tiêu thụ thép thô lớn khác có mức tiêu thụ bình quân đầu người cao hơn bao gồm Trung Quốc (659 kg/người), Nhật Bản (550 kg/người), Đức (443 kg/người), Thổ Nhĩ Kỳ (332 kg/người), Nga (322 kg/người) và Hoa Kỳ (265 kg/người).
Công nghiệp hóa là quá trình con người chuyển hóa tài nguyên thiên nhiên thành của cải xã hội. Khi của cải xã hội tích lũy đến một mức nhất định và công nghiệp hóa bước vào giai đoạn trưởng thành, cơ cấu kinh tế sẽ trải qua những thay đổi đáng kể, tiêu thụ thép thô và các tài nguyên khoáng sản quan trọng sẽ bắt đầu giảm, và tốc độ tiêu thụ năng lượng cũng sẽ chậm lại. Ví dụ, mức tiêu thụ thép thô bình quân đầu người ở Hoa Kỳ duy trì ở mức cao trong những năm 1970, đạt mức tối đa 711 kg (năm 1973). Kể từ đó, mức tiêu thụ thép thô bình quân đầu người ở Hoa Kỳ bắt đầu giảm, với sự sụt giảm mạnh từ những năm 1980 đến những năm 1990. Nó giảm xuống mức thấp nhất (226 kg) vào năm 2009 và từ từ phục hồi lên 330 kg cho đến năm 2019.
Vào năm 2020, tổng dân số của Ấn Độ, Nam Mỹ và Châu Phi sẽ lần lượt là 1,37 tỷ, 650 triệu và 1,29 tỷ người, đây sẽ là những khu vực tăng trưởng chính về nhu cầu thép trong tương lai, nhưng điều này sẽ phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia khác nhau vào thời điểm đó.
Cơ chế định giá quặng sắt toàn cầu
Cơ chế định giá quặng sắt toàn cầu chủ yếu bao gồm định giá theo hợp đồng dài hạn và định giá theo chỉ số. Định giá theo hợp đồng dài hạn từng là cơ chế định giá quặng sắt quan trọng nhất trên thế giới. Cốt lõi của nó là các bên cung và cầu quặng sắt sẽ khóa lượng cung hoặc lượng mua thông qua các hợp đồng dài hạn. Thời hạn thường là 5-10 năm, hoặc thậm chí 20-30 năm, nhưng giá cả không cố định. Từ những năm 1980, chuẩn mực định giá của cơ chế định giá theo hợp đồng dài hạn đã thay đổi từ giá FOB ban đầu sang giá thành cộng thêm cước vận chuyển đường biển phổ biến hơn.
Cơ chế định giá theo hiệp hội dài hạn hoạt động như sau: trong mỗi năm tài chính, các nhà cung cấp quặng sắt lớn trên thế giới đàm phán với các khách hàng lớn của họ để xác định giá quặng sắt cho năm tài chính tiếp theo. Sau khi giá được xác định, cả hai bên phải thực hiện trong vòng một năm theo giá đã thỏa thuận. Sau khi bất kỳ bên nào trong số người mua quặng sắt và bất kỳ bên nào trong số người cung cấp quặng sắt đạt được thỏa thuận, các cuộc đàm phán sẽ kết thúc và giá quặng sắt quốc tế sẽ được ấn định từ đó trở đi. Chế độ đàm phán này là chế độ “bắt đầu theo xu hướng”. Chuẩn mực định giá là FOB. Mức tăng giá quặng sắt cùng chất lượng trên toàn thế giới là như nhau, tức là “FOB, mức tăng như nhau”.
Trong giai đoạn 1980-2001, giá quặng sắt tại Nhật Bản chiếm ưu thế trên thị trường quặng sắt quốc tế với chênh lệch 20 tấn. Sau khi bước sang thế kỷ 21, ngành công nghiệp sắt thép của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và bắt đầu có tác động quan trọng đến cung cầu quặng sắt toàn cầu. Sản lượng quặng sắt bắt đầu không đáp ứng được sự mở rộng nhanh chóng của năng lực sản xuất sắt thép toàn cầu, và giá quặng sắt quốc tế bắt đầu tăng mạnh, tạo tiền đề cho sự “suy giảm” của cơ chế giá thỏa thuận dài hạn.
Năm 2008, BHP, Vale và Rio Tinto bắt đầu tìm kiếm các phương pháp định giá có lợi cho riêng mình. Sau khi Vale đàm phán được giá ban đầu, Rio Tinto đã tự mình đấu tranh để tăng giá mạnh hơn, và mô hình “bắt đầu theo xu hướng” đã bị phá vỡ lần đầu tiên. Năm 2009, sau khi các nhà máy thép ở Nhật Bản và Hàn Quốc xác nhận “giá khởi điểm” với ba công ty khai thác lớn, Trung Quốc đã không chấp nhận mức giảm 33%, nhưng đã đạt được thỏa thuận với FMG về một mức giá thấp hơn một chút. Kể từ đó, mô hình “bắt đầu theo xu hướng” chính thức kết thúc, và cơ chế định giá theo chỉ số ra đời.
Hiện nay, các chỉ số quặng sắt được công bố trên phạm vi quốc tế chủ yếu bao gồm Platts iodex, chỉ số TSI, chỉ số mbio và chỉ số giá quặng sắt Trung Quốc (CIOPI). Từ năm 2010, chỉ số Platts đã được BHP, Vale, FMG và Rio Tinto lựa chọn làm cơ sở định giá quặng sắt quốc tế. Chỉ số mbio được công ty Metal Herald của Anh công bố vào tháng 5 năm 2009, dựa trên giá quặng sắt loại 62% tại cảng Thanh Đảo, Trung Quốc (CFR). Chỉ số TSI được công ty SBB của Anh công bố vào tháng 4 năm 2006. Hiện tại, chỉ số này chỉ được sử dụng làm cơ sở thanh toán các giao dịch hoán đổi quặng sắt trên sàn giao dịch Singapore và Chicago, và không ảnh hưởng đến thị trường giao dịch giao ngay quặng sắt. Chỉ số giá quặng sắt của Trung Quốc được công bố chung bởi Hiệp hội Công nghiệp Sắt thép Trung Quốc, Phòng Thương mại Xuất nhập khẩu Hóa chất Khoáng sản Trung Quốc và Hiệp hội Doanh nghiệp Luyện kim và Khai khoáng Trung Quốc. Hệ thống này được đưa vào vận hành thử nghiệm vào tháng 8 năm 2011. Chỉ số giá quặng sắt của Trung Quốc bao gồm hai chỉ số phụ: chỉ số giá quặng sắt trong nước và chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu, cả hai đều dựa trên giá vào tháng 4 năm 1994 (100 điểm).
Năm 2011, giá quặng sắt nhập khẩu vào Trung Quốc vượt quá 190 USD/tấn khô, mức cao kỷ lục, và giá trung bình hàng năm của năm đó là 162,3 USD/tấn khô. Sau đó, giá quặng sắt nhập khẩu vào Trung Quốc bắt đầu giảm dần qua từng năm, chạm đáy vào năm 2016, với giá trung bình hàng năm là 51,4 USD/tấn khô. Sau năm 2016, giá quặng sắt nhập khẩu của Trung Quốc phục hồi chậm. Đến năm 2021, giá trung bình 3 năm, 5 năm và 10 năm lần lượt là 109,1 USD/tấn khô, 93,2 USD/tấn khô và 94,6 USD/tấn khô.


Thời gian đăng bài: 01/04/2022